User Rating: 0 / 5

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
 

Câu đối là một sản phẩm tinh hoa của trí tuệ và là một thú chơi chữ cấp cao trong văn chương.

Câu đối làm cho một bài thơ (văn vần) hay một bài phú (văn xuôi) trở nên trang trọng và hùng khí.

Người xưa thường ra câu đối để thử tài, thử trí thông minh, xem chí khí của người khác; hoặc dùng trong các dịp lễ ăn mừng thi đậu, làm quan, tân gia, thượng thọ, ma chay, v.v.  Trong thơ thất ngôn bát cú, hai cặp thực và luận {3-4; 4-6} phải là những câu đối.  Câu đối có thể là một chữ hay cả chục chữ.

alt

Những câu đối của Bà Đoàn Thị Điểm (1705-1748)

1 - Với anh trai Đoàn Doãn Luân (1703 -  ? ):

Cô Điểm, khi lên 6 tuổi, đang học Sử Ký Tư Mã Thiên, anh là Đoàn Doãn Luân lấy một câu trong Sử Ký ra câu đối:

Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiếm nhi trảm chi

(Rắn trắng giữa đường, ông Quý tuốt gươm mà chém) ông Quý ở đây là tên huý của Hán Cao Tổ Lưu Bang

Cô Điểm liền lấy một câu cũng trong Sử Ký đối lại:

Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng Thiên nhi thán viết

(Rồng vàng đội thuyền, Ông Vũ ngửa mặt lên Trời mà than) ông Vũ ở đây là vua Đại Vũ nhà Hạ

Anh trai Đoàn Thị Điểm là Đoàn Doãn Luân xuống ao rửa chân, thấy em đang trang điểm trước gương, bèn ra câu đối:

Đối kính hoạ mi, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm (Soi gương kẽ lông mày, một nét hoá ra hai nét). trong đây có chữ Điểm là tên của bà.

Đoàn Thị Điểm đối lại:

Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân

(Tới ao ngắm trăng, một vầng hoá ra hai vầng).  Trong đó có chữ Luân là tên của anh bà.

Có lần Đoàn Doãn Luân từ ngoài đi vào nhà, thấy em gái đang ngồi bên rổ kim chỉ, liền đọc:

Huynh lai đường thượng tầm song nguyệt

(Anh trai đến nhà trên tìm 2 mặt trăng)

Song nguyệt là 2 mặt trăng, mà theo chữ Hán, 2 chữ Nguyệt ghép lại là chữ Bằng: Bè bạn, bằng hữu, nên câu trên còn có nghĩa là: Anh trai đến nhà trên tìm bạn.

Cô Điểm liền đối lại:

Muội đáo song tiền tróc bán phong

(Em gái đến trước cửa sổ bắt nửa làn gió)

Bán phong là nửa làn gió, mà cũng có nghĩa là phân nửa chữ Phong tức là chữ Sắt nghĩa là con rận. Nên câu đối trên có nghĩa là : Em gái đến trước cửa sổ bắt con rận.

2 - Với quan Tham Tụng:

Một lần quan Tham Tụng Nguyễn Công Hãn sang chơi bên dinh của Thượng Thư Lê Anh Tuấn, thấy Cô Điểm đang đi một mình bên bờ dậu, ông dừng lại, bảo Cô Điểm làm câu đối lấy đề tài là đi một mình. Chỉ giây lát, Cô Điểm đọc:

Đàm luận cổ kim tâm phúc hữu

(Bàn chuyện xưa nay, tim bụng là bạn)

Truy tùy tả hữu cổ quăng thần

(Đi theo trái phải, tay chân là bờ tôi)

3 - Với Tràng An Tứ Hổ:

Bấy giờ, ở kinh đô Thăng Long có bốn danh sĩ được gọi là: "Tràng An Tứ Hổ" gồm Nhữ Đình Hiền (1659 - ? ), Nguyễn Công Thái (1684 - 1758), Nguyễn Bá Lân (1700 - 1786) và Vũ Diệm (1705 -  ? ) cùng rủ nhau đến nhà bà Đoàn Thị Điểm để thử tài. Bà ra câu đối:

Đình tiền, thiếu nữ khuyến tân lang (Trước sân, thiếu nữ mời ăn trầu).

Tân lang là trầu cau, lại đồng âm (Hán) với tân lang là chàng rể mới. Tràng An Tứ Hổ đều chịu phục không nghĩ ra câu đối lại, trên đường về có người hỏi chuyện thì Tràng An Tứ Hổ giải thích rằng: "câu thách đố của Hồng Hà nữ sĩ tài tình mà lắt léo ở chỗ cô ta dùng từ ngữ đồng âm khác nghĩa. Thiếu nữ là cô gái trẻ và cũng là làn gió nhẹ. Tân lang là chàng rể mới, nhưng cũng là cây cau. Thành ra câu văn muốn hiểu "gió nhẹ vờn cây cau" hay "cô gái mừng chàng rể mới" hoặc "cô gái mời trầu cau" cũng đều đúng cả. Nếu hấp tấp đối theo một nghĩa thì chẳng bõ mua cười, bọn chúng tôi đành thoái là vì như vậy đó".

Phải chờ đến gần 300 năm sau khi văn hóa phương Tây đã xâm nhập vào Việt Nam mới có người là Trường Văn Nguyễn Phước Thắng đối lại được câu trên như sau:

Các hậu, trưởng nam hoài cựu ước (Sau lầu, người con trai lớn nhớ lời nguyện ước cũ)

(Cựu ước là lời ước nguyện cũ, cũng có nghĩa là Kinh Cựu Ước trong đạo Thiên Chúa)

Vế ra:                          Hổ thật thành hổ giấy (Đoàn thị Điểm)

 "Tràng An tứ hổ" định thử tài bà Điểm bị bà ra câu đối mà chịu bó tay, nhân đó bà ra tiếp vế đối này với ý rằng Hổ này chỉ là hổ danh là xấu hổ hay hổ giả mà thôi. Từ đó trong dân gian xuất hiện câu thành ngữ "Tràng An tứ hổ, nghểnh cổ nhìn nhau" còn lưu truyền cho tới tận ngày nay.

Vế đối:                        Sư giả hóa sư già (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng)

 Ý nói: 4 danh sĩ Tràng An khâm phục Bà, ngỡ Bà là thầy (sư) "giả", nhưng không ngờ là bậc thầy "già" dặn nên chẳng có gì phải xấu hổ khi thua một bậc nữ nhi văn chương tài hoa xuất chúng. Nhưng ngầm ý ăn miếng trả miếng (vì bị chê là hổ giấy) nên chê khéo Bà dữ như Sư tử, và đã...già! Chữ Sư ở đây ngoài nghĩa là bậc thầy, còn có nghĩa là sư tử (Lân Sư Rồng) để đối với chữ Hổ)

4 - Những câu đối của Đô Ngự Sử Nguyễn Kiều (1695 - 1752) với Đoàn Thị Điểm:

Câu đối Tết của Nguyễn Kiều (chồng bà Đoàn Thị Điểm) ứng tác trong bối cảnh đi xứ nhà Thanh nhớ vợ:

Tứ thơ niềm khách bên đèn mộng
Tiếng pháo hò xe rộn ngõ ngoài

Bấy giờ đoàn sứ bộ nước ta sang Trung Quốc về tới Quảng Tây bị nghẽn đường bởi dân chúng vùng này nổi dậy khởi nghĩa vũ trang chống lại nhà Thanh nên buộc phải nán lại để lánh nạn mà không kịp về An Nam ăn tết

Năm Mậu Dần, tháng hạ bà Điểm đang ngồi với ông chồng ở tư thất bình văn, tập hợp các bài văn cũ để làm thi tập cho cả nhà. Đột nhiên bức màn đỏ che trước cửa, kế bên ông bà ngồi, bị gió cuốn lên làm bụi bay tứ tung. Bà Điểm bấm đốt ngón tay rồi đọc câu thơ rằng:

Bắc khuyết vân trình chiêu thiếp thụy (Cửa Bắc xe mây điềm thiếp rõ)
Nam thùy xuân vũ trước quân ân (Bờ Nam mưa ấm tỏ ơn vua)

Nghe qua, Nguyễn Kiều bồn chồn hỏi ý nghĩa câu thơ nhưng bà chỉ mỉm cười không nói. Nhưng bà biết điềm xấu sắp xảy ra với mình, còn chồng sẽ được thăng quan”. Quả đúng như vậy, it lâu sau do có công trong chuyến đi sứ, Nguyễn Kiều được bổ làm Đốc đồng trấn Nghệ An. Lúc đó, Đoàn Thị Điểm không muốn theo chồng đi, vì ở nhà còn mẹ già và các cháu thiếu người chăm sóc, cũng như linh tính báo sẽ có điều không lành trong chuyến đi xảy đến với bà. Nhưng Nguyễn Kiều hết lời nài nỉ, cuối cùng bà phải chiều chồng, làm bổn phận người vợ, xuống thuyền cùng ông đi vào Nghệ An. Lúc thuyền đến bến Đền Sòng, nơi thờ công chúa Liễu Hạnh, bà bị cảm rất nặng.  Biết mình không thể qua khỏi, bà trăng trối với chồng: "Chàng nên cố gắng lo tròn việc nước để trở về kinh sớm ngày nào tốt ngày đó, chớ nên ở lâu chốn biên thùy này mà dấn thân vào nơi gió bụi hiểm nguy". Trối xong, bà từ trần, lúc đó là ngày 11 tháng 9 năm Đinh Mão (1748), hưởng được 44 tuổi.

Theo gia phả họ Đoàn, tổ tiên Đoàn Thị Điểm trước họ Lê và theo con đường võ nghiệp. Nguyên tằng tổ là Lê Công Nẫm, làm quan võ tới chức Thái Thường tự Thiếu Khanh, được phong tước Thiêm hào tử. Đến đời cụ thân sinh Lê Doãn Nghi vì nằm mộng thấy một vị thần bảo ông đổi sang họ Đoàn thì mới hiển đạt. Do đó, ông đã đổi là Đoàn Doãn Nghi. Về sau con cái hiển đạt, ông đã xây miếu thờ vị thần báo mộng cho mình tại bản thôn. Hiện nay, miếu thờ đó vẫn được con cháu họ Đoàn ở thôn Giai Phạm hương khói. Về việc này trong nhà thờ họ còn lưu đôi câu đối như sau:

Vũ liệt văn Khôi quang Thế phả (Võ giỏi văn tài ngời phả họ)
Lê tiền Đoàn hậu ký Thần ngôn (Lê xưa Đoàn mới nhớ lời Thần)
alt

Trạng Quỳnh đối đáp cùng Đoàn Thị Điểm

1 - Những vế ra Trạng Quỳnh không đối được, hiện đã được hậu thế giải mã giúp:

Có một lần, Trạng Quỳnh và Thị Điểm nhìn thấy nhau từ hai cửa sổ đối diện nhau, Đoàn Thị Điểm ngẫu hứng bèn ra một vế đối:

Song song là hai cửa sổ, hai người ngồi trong cửa sổ song song.

Vế ra rất oái oăm, “song song” 12 ”hai cửa sổ”. Nhiều nghĩa: “song song” 2 vừa có nghĩa sóng đôi, ngang bằng nhau, vừa có nghĩa được thông suốt (nghĩa “sóng đôi, ngang bằng nhau” đã được Việt hoá). Cùng âm: “song song” 1 – “song song” 2. Cũng lưu ý rằng, nếu ngắt nhịp giữa “ngồi” và “trong”, thì “cửa sổ song song” lại có thể hiểu theo một cách khác, là hai lần cửa, hoặc hai cửa sổ cùng nằm trên hướng nhìn (hai người không ngồi gần nhau). Bên cạnh đó, hiện tượng trùng điệp (âm hay từ) cũng được sử dụng, chỉ có 8 âm tiết được dùng để lắp đầy cho 14 âm tiết của vế đối, hai-song song-hai, song là hai và song cũng có nghĩa là song cửa. Lại gặp một vế đối quá hóc búa, Trạng Quỳnh bí quá không đối được đành giả bộ tảng lờ, đi ra chỗ khác.

Hậu bối Trường Văn Nguyễn Phước Thắng xin phép được đối 2 câu:

Không không tức không trống rỗng, không sắc gì ngoài trống rỗng không không!
Tam tam tức ba chữ tam, ba trò gàn tán ba chữ tam tam!

Ông Nguyễn Hữu Quyên ở "Hanoi-Amsterdam" cũng có câu đối như sau:

Loáng loáng cùng một con ngòi, một nhịp vắt chéo con ngòi loáng loáng

Ông Hoàng Kim Long ở Biên Hòa - Đồng Nai cũng tham gia đối 1 câu:

Trùng trùng dáng nước non cao, nước trong cá lội non cao trùng trùng

Một nhân vật khuyết danh ở Rạch Giá - Kiên Giang cũng có 2 câu đối:

Thon thon đối bóng hai người, hai người e ngại dáng cười thon thon
Minh minh bầu quyển thái dương, cỏ cây chào đón gọi đường minh minh

Một lần Trạng Quỳnh đến nhà Đoàn Thị Điểm chơi bị chó đuổi chạy rồi phải nhảy tót lên cây hồng. Đoàn Thị Điểm ra nhìn thấy rồi ra vế đối:

Thằng Quỳnh ngồi trên cây cậy, dái đỏ hồng hồng

Và nói rằng nếu Trạng Quỳnh đối được mới đuổi chó đi mà mời vào nhà chơi.  Hồng là cây hồng, quả hồng… Nhưng cây hồng cùng giống với cây cậy, Trạng Quỳnh nghĩ nát óc không ra nên phải ngồi mãi trên cây

Hậu bối Trường Văn Nguyễn Phước Thắng xin phép được đối:

Cô Điểm vít ngọn cành bòng, vú vàng cam cam

Chữ Quỳnh trong Hán tự có nghĩa là thứ Ngọc đỏ, Ngọc có thể liên tưởng đến Ngọc Hành nghĩa là dái. Chữ "bòng" có nghĩa đèo bòng khi đối với chữ cậy có nghĩa là ỷ lại, cậy nhờ. Chữ "bòng" đọc trại thành "bồng" để đối với chữ "cạy" (khi chữ "cậy" đọc trại thành "cạy"). Chữ Điểm trong Hán tự có nghĩa là cái chấm. Chấm lớn thì tròn, cho phép liên tưởng đến núm vú và vú. Cam và bòng là 2 cây cùng giống. Hồng hồng và cam cam cùng là từ láy toàn bộ đều chỉ về màu sắc.

Vế đối khác của Vũ Trình Tường:

Mụ Điểm đái dưới gốc sung, ghe chua ngái ngái (Cây sung và cây ngái cùng họ với nhau và cùng có quả ăn được. “sung - ngái” đối với “cậy - hồng”, lấy mùi vị (ngái ngái) để đối với màu sắc (hồng hồng).

Một lần giáp tết Nguyên Đán trời mưa rả rích, Đoàn Thị Điểm ngồi gói nem. Trông thấy Trạng Quỳnh đội mưa đi mua rượu về, cô bảo muốn nhắm nem thì ngồi xuống cùng gói với cô. Quỳnh trả lời: Chả thích nem, chỉ thích giò. Thị Điểm liền ra một vế đối:

Trời mưa đất Thịt trơn như Mỡ, Dò đến hàng Nem, Chả muốn ăn

Câu đối cũng rất lắt léo dùng toàn chữ: Thịt, Mỡ, Dò, Nem, Chả khiến Trạng Quỳnh lại một lần nữa bị bế tắc.

Ông Trường Văn Nguyễn Phước Thắng có đối 3 câu:

Vua giận rời Cung lẹ tựa Tên, Thương nàng lễ Giáo, Nỏ thèm trách

Nỏ là tiếng địa phương ở vùng Hà Tĩnh , Bình Trị Thiên, có nghĩa như chẳng, không.

Trăng đổ hoàng Cung đẹp tựa Tiên, Thương về gốc Việt, Nỏ thèm ngủ
Trăng xuống xứ Việt đẹp tựa Tiên, Câu lẫn ánh Liềm, Nỏ thèm ngủ

Cung, Tên, Tiên (roi), Việt, Thương, Giáo, Câu, Liềm, Nỏ là các loại khí giới trong bộ 18 ban binh khí

Ông Thiền Long Nguyễn Phước Thạnh đối 2 câu:

Quỹ thu chục Hào phí qua Ải, Lũy tiến triệu Quan, Thành bội thu
Dừa già củ Hũ to hơn Chĩnh, Kiệu ngang lò Vại, Lọ cần nghỉ

(Lọ cũng có nghĩa là không cần đến)

Lần khác, cô Điểm đi lên phố Mía ở Sơn Tây gặp ngay Trạng Quỳnh ở trên đó, cô lại ra vế đối:

Lên phố Mía, gặp cô hàng Mật, cầm tay Kẹo lại hỏi thăm Đường

Trong câu này có 4 từ: Mía, Mật, Kẹo, Đường đều chỉ những đồ ngọt khiến Trạng Quỳnh một lần nữa lại bó tay. Ngoài ra, vế ra còn khó ở chỗ: từ Mía mới sinh ra Mật, Kẹo, Đường.

Vế đối do ông Thiền Long Nguyễn Phước Thạnh đối:

Đến hàng Thịt ghé anh quầy Giò, lựa chân Dồi tới đựng mấy Bì

Vế đối khác 1:

Bà đồ Nứa, đi cáng võng Tre, đến bụi Trúc thở dài hí Hóp

(khuyết danh)  hóp là tiếng địa phương dùng để chỉ một loại cây cùng họ với tre trúc

Vế đối khác 2:

Ông lái Trâu ngồi xe chở Ngựa, qua đàn Dê than vắn bệt Bò (khuyết danh)

Vế đối khác 3:

Xuống làng Sen thấy chị tiệm Gương, ngẩng đầu Ngó tới muốn trao Tơ

(Trường Văn Nguyễn Phước Thắng)

2 - Giai thoại Da Trắng Vỗ Bì Bạch:

Trạng Quỳnh một hôm bắt gặp nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đang tắm, vừa tắm vừa ngâm thơ ca hát. Trạng ta hình như mê mệt nữ sĩ đã lâu nên lên tiếng xin tắm chung, hay ít nhất cũng xin nữ sĩ cho chiêm ngưỡng thân hình kiều diễm để có hứng nay mai lên đường đi sứ sang Tàu. Nữ sĩ không chút gì hờn giận lại đọc lên câu đối:

Da trắng vỗ bì bạch

(Ngụ ý bảo ông Trạng Quỳnh nếu đối được câu đối kể trên, nàng sẽ hết sức chiều theo ý của Trạng)

Da trắng là phiên dịch tiếng Nôm của bạch bì dùng thoát một chút thành ra bì bạch. Cũng ở chỗ câu đối được thịnh hành trong dân gian từ ngàn xưa nên người Việt rất quen việc đối đáp chơi chữ. Tục truyền ông Trạng nhà ta trước câu đối thách thức của Đoàn nữ sĩ đã lúng túng không ít để rồi ông đành tạm ngâm ngay một câu đáp

Trời xanh màu thiên thanh

Gần đây có một số người đối thêm vài câu nữa nhưng có câu tương đối được cũng có câu chưa chuẩn về ngữ nghĩa cho lắm, vậy đưa cả vào đây để tham khảo:

Vế đối 1: Rừng sâu mưa lâm thâm (Nguyễn Tài Cẩn - Từ Hán Việt chỉ Rừng là lâm, sâu là thâm. Lâm thâm hợp lại tạo nên một phó từ mô tả thêm trạng thái của trận mưa. Mưa thế nào, mưa lâm thâm)

Vế đối 2: Biển Tây có hải âu (Biển Tây viết theo tiếng Hán là Hải Âu cũng dùng để chỉ chim hải âu)

Vế đối 3: Lên núi gặp Thượng Sơn ('Lên núi' theo chữ Nho: thượng sơn, cũng có thể tên một người, Lê Hoàng Thượng Sơn)

alt

Câu đối của Cao Bá Quát

Một hôm, Cao Bá Quát đến nghe bình văn ở một trường Đốc. Nghe đọc những câu văn tầm thường, ông cứ lắc đầu và còn bịt mũi tỏ ra khó chịu, quân lính thấy vậy bắt vào nộp quan đốc học. Quát xưng là học trò, hỏi học với ai, ông trả lời: "Tôi học với ông Trình ông Chu" (Trình, Chu là hai vị học giả vào hàng tôn sư trong đạo Nho. Trả lời như vậy là tỏ ra mình học với các bậc thánh hiền, học từ gốc chứ không thèm học ngọn!)  Quan đốc giận, ra câu đối bắt đối ngay:

Nghĩ tiểu sinh hà xứ đắc lai, cảm thuyết Trình Chu sự nghiệp

Chú bé này ở đâu đến đây, dám nói đến sự nghiệp ông Trình, ông Chu to lớn

Cậu Quát đối lại:

Ngã quân tử kiến cơ nhi tác, dục vi Nghiêu Thuấn quân dân

Người quân tử gặp thời làm việc, muốn quân dân đều được như đời Thuấn, đời Nghiêu

Quan đốc phục tài, nhất là cảm thấy chí hướng lớn lao của người trẻ tuổi. Ông đã không giận mà còn thưởng cho Cao Bá Quát.

Câu đối vịnh điếu cày:

Ra tay cầm cán sôi trong nước
Ngậm khói phun mây sạch bụi trần

Mấy thầy nho đi gặp một đám tang, chủ nhà mời dừng chân để xin câu đối. Không hề quen biết, cũng chưa rõ tình hình cụ thể thế nào, không ai nghĩ ra viết câu đối sao cho hợp. Một nho sĩ cùng đi trong đám ấy, xin giấy bút viết ngay:

Thấy xe thiện cổ xịch đưa ra, không thân thích lẽ đâu khóc mướn
Tưởng sự bách niên đừng nghĩ lại, động can tràng nên phải thương vay

Các nhà khoa bảng ở đám tang hết sức phục đôi câu đối tài tình. Có người đoán ra ngay: - Cứ giọng văn lưu loát và tình cảm phóng khoáng này thì tác giả chắc chắn là Cao Bá Quát. Họ chèo kéo đám nho sĩ để hỏi han, thì quả nhiên đúng như vậy. Có thuyết khác lại nói đôi câu đối này do Lê Quý Đôn viết

Tương truyền khi chưa quen nhau, ông Quát nghe tiếng ông Nguyễn Văn Siêu dạy học, tìm đến thăm dò. Ông Siêu còn nghèo lắm, chỉ ngồi trên ghế chõng tre cũ kỹ, học trò trải chiếu ngồi quanh nền nhà. Cao Bá Quát xin vào học, ông Siêu ra câu đối, bảo có đối được mới nhận:

Tiên sinh tọa tịch thượng, cót chi két, két chi cót, cót cót két két

Cao Bá Quát đối ngay:

Tiểu tử nhập đình trung, thẩn chi thơ, thơ chi thẩn, thẩn thẩn thơ thơ

Nguyễn Văn Siêu rất phục, dắt tay mời vào. Từ đó hai người kết bạn vong niên, dân gian vẫn gọi là "Thần Siêu Thánh Quát" rất đúng với đôi câu đối của vua Tự Đức "văn như Siêu Quát vô Tiền Hán"

Trước khi khởi nghĩa, Cao Bá Quát được triều đình nhà Nguyễn đưa đi làm giáo thụ ở Quốc Oai, vùng đất thuộc Sơn Tây, xa chốn kinh đô, thành thị. Học trò ít, cảnh sinh hoạt tiêu điều. Ông đã viết đôi câu đối dán ngoài nhà học:

Nhà trống năm ba gian, một thầy, một cô, một chó cái
Học trò dăm bảy đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi

Có thuyết khác nói rằng đôi câu đối này là của Ông Ích Khiêm

Câu đối bày tỏ ý chí trước nổi dậy chống Nhà Nguyễn:

Trượng phu lập thế thủ ý khí

Người trượng phu đứng ở trên đời phải giữ vững chí khí

Oải ốc đê đầu ngô sở sỉ

Cúi đầu dư­ới mái nhà thấp là điều tôi lấy làm xấu hổ

Câu đối khắc trên lá cờ làm tôn chỉ cho cuộc khởi nghĩa:

Bình Dương, Đồ Bản vô Nghiêu Thuấn

Ở Bình Dương và Đồ Bản không có những ông vua tốt như vua Nghiêu, vua Thuấn

Mục Dã, Minh điều hữu Võ Thang

Thì ở Mục Dã, Minh Điều phải có những người như Võ Vương, Thành Thang nổi dậy

Cao Bá Quát khởi nghĩa không thành, bị bắt, bị giam, bị cùm chân, chờ đem ra xử tội. Ngồi trong ngục tối, ông vẫn ngâm nga đôi câu đối:

Một chiếc cùm lim chân có đế
Ba vòng xích sắt bước thì vương
Tiền bạc của giời chung trống trải thế mới vòng khuyên sáo
Công danh đường đất rộng kèn cựa chi cho thẹn chí tang bồng

Trước khi thọ hình, Cao Bá Quát còn bình tĩnh ứng khẩu:

Ba hồi trống giục mồ cha kiếp
Một nhát gươm đưa đéo mẹ thời

Chỉ vì tội tày trời của Cao Bá Quát, mà đại họa xảy đến cho cả gia đình, bị tru di cả ba đời (tru di tam đại).  Cao Bá Ðạt, khi hay được tin trên, đã ngất xỉu một hồi lâu, khi tỉnh dậy, liền khóc rống lên mà đọc câu đối như kêu trời, kêu đất rằng:

Khấp cùng vũ trụ thiên vô bác

Khóc cùng vũ trụ trời không tựa

Nộ đảo sơn hà địa dục đông

Giận đổ sơn hà đất muốn xoay

****

Vài câu đối Tết Giáp Ngọ (2014)

alt

Câu đối cổ có vế ra nhân dịp Tết năm Ngọ

Không rõ năm Ngọ nào, có một vế xuất mà suốt mấy trăm năm vẫn chưa ai đối được, gần đây có nhiều người đối nhưng có câu chuẩn có câu vẫn chưa đúng nghĩa ngữ, vậy liệt kê cả vào để tham khảo:

Vế ra:                          Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa (khuyết danh)

Lưu ý: trong câu đối vế ra này, chữ “đá”: vừa là danh từ (rock), vừa là động từ (kick).  Thêm vào đó, cụm từ “con ngưạ đá” là từ ngữ quen thuộc trong dân gian; và con ngựa là một sinh vật.

Vì vậy, ở vế đối, chữ nào đối với “đá” thì cũng cần phải vừa là danh từ, vừa là động từ.  Một số chữ đối trong các câu đối dưới đây không đáp đúng điều kiện đó nên chưa chuẩn.

Vài vế đối:

1.      Chú chó thau chú chó thau, chú chó thau chẳng thau chú chó (Thiền Long) (nghĩa danh từ Thau là hợp kim đồng và kẽm (đồng thau). Nghĩa động từ Thau là lau, rửa; ví dụ như: Thau chua rửa mặn trong nghề nông).

2.      Con gà lôi con gà lôi. Con gà lôi không lôi con gà (Hải Bằng.HDB. AZ)

3.      Con chim chích con chim chích, con chim chích không chích con chim (Nguyễn Cao Minh)

4.      Đám tướng cướp đám tướng cướp, đám tướng cướp cũng cướp đám tướng (Phan Thành Nhơn)

5.      Con bò cạp con bò cạp, con bò cạp không cạp con bò (Hải Bằng.HDB)

Phân loại câu đối

Dương Quảng Hàm phân loại câu đối Việt Nam dựa theo ý nghĩa như sau:

Câu đối mừng: làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới, v.v.

Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa khả phong giai tị ốc.

Sống ở làng, sang ở nước, mừng ông nay lại vểnh râu tôm

(Nguyễn Khuyến, viết mừng một chánh tổng trước bị cách chức, sau được phục sự và làm nhà mới.)

Câu đối phúng: làm để viếng người chết.

Nhà chỉn nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng,
tất tưởi chân nam đá chân chiêu, ví tớ đỡ đần trong mọi việc
Bà đi đâu vợi mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá toạ,
gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm.

(Nguyễn Khuyến: câu đối khóc vợ)

Câu đối Tết: làm để dán nhà, cửa, đền, chùa... về dịp Tết Nguyên Đán.

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.
Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.
Tết đến không tiền vui chi Tết
 Xuân về hết gạo đón chi Xuân

(Nguyễn Công Trứ, câu đối làm vào dịp tết lúc còn hàn vi.)

Câu đối thờ: là những câu tán tụng công đức tổ tiên hoặc thần thánh làm để dán hoặc treo những chỗ thờ.

Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ.
Nhân ư bách hạnh hiếu vi tiên.

(Dịch nghĩa: Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa xuân. Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết) hoặc:

Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnh
Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm Giang

(Câu đối thờ Tuệ Tĩnh ở đền Bia)

Tùng thanh, trúc thanh, chung khánh thanh, thanh thanh tự tại.
Sơn sắc, thủy sắc, yên hà sắc, sắc sắc giai không.

(Câu đối khắc ở chùa Diệu Đức, Huế).

Câu đối tự thuật: là những câu kể ý chí, sự nghiệp của mình và thường dán ở những chỗ ngồi chơi.

Chị em ơi!  Ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông, tây, nam, bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác.
Trời đất nhẻ!  Gắng một phen này nữa, xếp cung, kiếm, cầm, thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh

(Nguyễn Công Trứ, câu đối tự thuật)

Câu đối đề tặng: là những câu đối làm ra để đề vào chỗ nào đó hoặc tặng cho người khác.

Nếp giàu quen thói kình khơi, con cháu nương nhờ vì ấm
Việc nước ra tay chuyên bát, bắc nam đâu đấy lại hàng

(Lê Thánh Tông, câu đối đề ở một hàng bán giàu (trầu) nước)

Câu đối tức cảnh: là những câu tả ngay cảnh trước mắt.

Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài

(Hồ Xuân Hương, vịnh cảnh trượt chân, ngã xoạc cẳng)

Câu đối chiết tự (chiết: bẻ gãy, phân tách; tự: chữ): là những câu do sự tách chữ Hán hoặc chữ Nôm ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu.

Tự(字) là chữ, cất giằng đầu, chữ tử (子) là con, con ai con nấy?
Vu(于) là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh (丁) là đứa, đứa nào đứa này?

Câu đối trào phúng: là những câu làm để chế diễu, châm chích một người nào đó.

Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại.
Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi

(Câu đối tặng một người chột mắt mới đỗ khoa thi võ)

Câu đối tập cú: là những câu lấy chữ sẵn ở trong sách hoặc ở tục ngữ, ca dao.

Gái có chồng như rồng có vây, gái không chồng như cối xay không ngõng.
Con có cha như nhà có nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

Câu đối thách (đối hay đố): người ta còn nghĩ ra những câu đối oái ăm, cầu kỳ rồi người ta tự đối lấy hoặc thách người khác đối. Lối đối này thường sử dụng nghệ thuật chơi chữ, đồng âm dị nghĩa...

Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc, nó cạch đến già
Con công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ lại

(Câu đối có bốn chữ: cóc cách cọc cạch đối với bốn chữ công kênh cồng kềnh)

Có những vế câu đối rất khó đối như:

Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương, phụ tử.

Vế này khó đối vì hồi hương (cũng có nghĩa "về quê") phụ tử (cũng có nghĩa "cha con") đồng thời lại là tên gọi các vị thuốc.

Vào vụ đông trường nam bón phân bắc trồng khoai tây, Sang xuân hạ quyết tâm thu hàng tấn củ.

Vế này cũng khó đối vì đông, tây, nam, bắc (chỉ hướng địa lý) và xuân, hạ, thu, đông (chỉ các mùa ở Việt Nam)

Hải Bằng.HDB