User Rating: 0 / 5

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
 
 
Câu đối là gì?
Câu đối là một cặp câu dài ngắn tùy ý và tạo thành hai vế - vế trên, vế dưới - và gồm những từ đối nhau về tình, ý, hình ảnh, và âm thanh (bằng/trắc). 
Những từ đơn đối nhau như: đen/trắng; ăn/uống; đi/đứng; dao/búa; …
Từ kép đối nhau như: giang sơn/đất nuớc; quân tử/tiểu nhân; lom khom/lác đác; tự do/dân chủ; v.v.
Vế trên do người ra câu đối đưa ra.  Vế dưới do người khác đối lại.  Có khi vế trên và vế dưới do cùng một người làm ra.
Các cụ ngày trước đã dạy con nít những từ đối nhau qua các câu đồng dao như: Chị làm sao, em làm vậy; chị buôn cậy, em buôn hồng; chị lấy chồng, em lấy vợ; chị đi chợ, em ở nhà; chị ăn quà, em ăn bánh; …
alt
Vài câu đối gợi ý:
Truyện kể rằng, sứ thần Nhà Thanh sang Việt Nam, coi rẻ sĩ phu người Việt, nghênh ngang và tự đắc ra vế đối:
LÔI ĐỘNG NAM BANG                 - Sấm Động Nước Nam
Trạng Quỳnh Việt Nam ứng khẩu đối ngay:
VŨ  QUA   BẮC   HẢI                     – Mưa Qua Biển Bắc
Sứ thần Hàng Địch Lộc và Nhiệm Lan Chi sang An Nam (VN) gặp Thi Sĩ họ Đoàn, bèn ra câu đối khá hỗn hào:
AN NAM NHẤT THỐN THỔ, BẤT TRI KỶ NHÂN CANH
An Nam có một tấc đất, không biết bao nhiêu người cày
Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm đối ngay:
BẮC QUỐC CHƯ ĐẠI   PHU, GIAI DO THỬ ĐỒ XUẤT
Các     đại       phu Phương Bắc, đều    từ    chỗ    ấy mà ra
Câu đối của Cao Bá Quát:
Cũng truyện kể lại rằng, lúc còn nhỏ, Cao Bá Quát (1809 - 1855)ra tắm ở Hồ Tây.  Đúng vào lúc vua Minh Mệnh đi kinh lý ngoài Bắc và ra Hồ Tây ngoạn cảnh.  Thấy cậu bé Quát không tránh xa mà còn vùng vẫy bơi lội, lính đến bắt lôi lên bờ.  Cậu được đưa tới trước mặt vua và tự khai là học trò, vì trời nực ra tắm mát. Vua nhìn xuống hồ thấy có con cá lớn đang đuổi đàn cá con, liền tức cảnh ra một câu đối và phán, nếu đối được, thì sẽ tha tội đánh đòn vì bất kính. 
Vua đọc:
NƯỚC TRONG LEO LẺO, CÁ ĐỚP CÁ
Cậu Quát ứng khẩu đối ngay:
TRỜI NẮNG CHANG CHANG, NGƯỜI TRÓI NGƯỜI
Nghe câu ứng đối quá hay, Vua bèn tha cho đi.
Câu đối của Ngô Thời Nhiệm và Đặng Trần Thường:
Truyện kể rằng: Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803)và Đặng Trần Thường (1759 - 1813)vốn là chỗ quen biết nhau.  Lúc Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung trọng dụng, Đặng Trần Thường đến xin Nhậm tiến cử. Trông thấy vẻ khúm núm họ Đặng làm mất phong độ của kẻ sĩ, Nhậm bèn nói: "Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác".  Đặng Trần Thường nuốt thẹn ra về, rồi vào Nam theo phò Nguyễn Phúc Ánh.  Khi Nhà Tây Sơn mất, một số quan văn võ bị giải về Hà Nội bị xử phạt đánh bằng roi ở Văn Miếu, trong đó có Ngô Thì Nhậm.  Chủ trì cuộc phạt đánh đòn đó lại chính là Đặng Trần Thường. Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế đối cho Ngô Thì Nhậm:
 AI  CÔNG   HẦU, AI  KHANH TƯỚNG, TRONG TRẦN  AI, AI DỄ  BIẾT AI
(Vế ra có 5 chữ ai và chữ trần chính là tên đệm của Đặng Trần Thường)
Ngô Thì Nhậm đáp:
THẾ CHIẾN QUỐC, THẾ XUÂN THU, GẶP THỜI THẾ, THẾ THỜI PHẢI THẾ
(Vế đối thật là tài tình đầy khí phách Kẻ Sĩ, cũng có 5 chữ thế và chữ thời là tên đệm của Ngô Thời Nhiệm).
Câu đối ứng khẩu của Hồ Xuân Hương khi bị trượt té (ngã):
Một hôm ấy, Hồ Xuân Hương cùng bạn bè ra phố dạo chơi, không may HXHdẫm phải chỗ trơn, trượt té sõng soài xuống đất.  Người đi đường và bạn bè thấy vậy cười lăn cười bò, HXHliền giơ tay trỏ lên trời đọc luôn đôi câu đối:
  GIƠ     TAY   VỚI  THỬ   TRỜI   CAO   THẤP
XOẠC  CẲNG   RA    ĐO     ĐẤT  NGẮN   DÀI
Quy luật trong câu đối
Câu đối chia làm hai thể loại: câu đối loại thơ (văn vần) và câu đối loại phú.
Câu đối loại thơ thì phải theo quy luật của loại thơ đó (thi tắc). 
Thơ thường là loại thất ngôn (7 chữ): chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu thì thanh bằng, trắc phải xen nhau.
Phú là loại văn xuôi biền ngẫu có những câu dài, ngắn tùy ý, miễn sao thanh âm đọc nghe thấy có chất thơ (vần và điệu).
Biền văn tức văn biền ngẫu.  Biền nghĩa đen là hai con ngựa đi song song nhau, ngẫu là chẳn đôi.  Văn biền ngẫu là loại cổ văn đòi hỏi người làm phải có trình độ chữ nghĩa cao để có thể tạo ra các câu văn đi song song và đối nhau nhằm gây nhiều ấn tượng.  Thể loại này được dùng nhiều trong phú, cáo, văn tế, v.v.
Quan sát những câu đối nêu trên, ta có thể suy ra những quy tắc chung của câu đối:
(1)   Hai vế đối có số chữ bằng nhau.
(2)  Âm bằng, trắc của các chữ đối nhau.  Nhưng thực ra trong câu 7 chữ, thì chỉ cần các chữ thứ tự 2,4, 6 (nhị, tứ, lục phân minh) là cần đối thanh âm; các chữ thứ tự 1,3,5 (nhất, tam, ngũ, bất luận) thì tuỳ ý.
(3)   Câu đối có thể dài, ngắn tùy người làm câu đối.  Trong thơ thất ngôn, các câu đối là 7 chữ.
(4)   Trong những câu đối dài hơn 7 chữ thường có chia ra vài câu ngắn (cụm từ/phrase) thì chữ cuối mỗi cụm từ phải đối nhau.
(5)   Các chữ đối nhau phải cùng một loại từ: cùng là danh từ, động từ, hay tĩnh từ v.v.
(6)   Ý đối ý; tình đối tình.
 Một    khắc  tiêu  dao,   canh  bạc được
Quanh  năm   kí   cóp,   cuộc  đời  thua
Câu đối phú thì không có thi tắc chặt chẽ, chỉ cần giữ cùng là một tự loại (danh từ, đại danh từ, động từ, tính từ, trạng từ, giới từ, liên từ, và tán thán từ), đối âm (bằng trắc), đối ý (lành, dữ), đối tình (thương, ghét), đối hình ảnh (sơn hà / xã tắc), và chỉ cần đối âm (bằng / trắc) ở chữ cuối của mỗi cụm từ (phrase), v.v.  Thí dụ:
Đêm  ba     mươi   tống   cựu, khép cánh càn khôn,  một  then  đưa  đẩy khìn khin khít   khịt
Sáng mồng một  nghinh  tân,  mở     lò    tạo  hóa,     hai cánh banh ra toác toạc toàng  toang
Nguồn gốc câu đối
Câu đối thấy phát xuất từ thời cổ Trung Quốc đặc biệt vào những dịp lễ Tết.  Câu đối được xem là tinh hoa của văn hóa chữ Hán.  Người Trung Quốc quan niệm: "Nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa". 
Câu đối đầu tiên được ghi lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934-965) là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959.
Trong lịch sử văn học Việt, câu đối có thể đã phát triển từ thời lệ thuộc Nhà Hán.  Chơi câu đối xác định tầm mức kiến thức và tài ứng đối của người chơi nên đã mau chóng trở thành một thú văn chương của giới Nho sĩ. 
Ở nước ta, ngoài câu đối viết bằng chữ Hán, các câu đối còn được làm bằng chữ Nôm, và về sau câu đối còn được viết cả bằng chữ quốc ngữ.
Vềdi sản của những câu đối Tết, còn lưu truyền những câu đối Tết hoặc Hán, hoặc Nôm rất hay của các vị vua, chúa, danh sĩ hàng đầu như: Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương...
Cho tới trước năm 1945, tục chơi câu đối Tết còn rất phổ biến.  Vào lúc giao thời văn hóa Pháp-Việt, lúc "Cái học Nhà Nho đã hỏng rồi.  Mười người đi học, chín người thôi", ngoài câu đối Tết viết bằng chữ Hán - Nôm, câu đối Tết viết bằng chữ quốc ngữ cũng khá phát triển và được nhiều người ưa thích.
Đồng thời với thú chơi câu đối Tết, nghệ thuật thư pháp cũng phát triển mạnh để nâng cao trình độ thú chơi câu đối.  Đó chính là giai đọan xuất hiện "ông đồ" của Vũ Đình Liên qua những câu bài thơ:
https://encrypted-tbn2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcStyPH6xjMrSDwIs0bN3BGBC64bp8yKQodX5F1ssq6Iw5AQSlDS
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay
Ngày nay, cứ mỗi khi Xuân về,Tết đến, các tay thư pháp tay nghề gìa hay non lại đua nhau viết câu đối Tết trên đường phố ở một số đô thị lớn.  Rồi trên các trang báo Xuân cũng không thể thiếu những câu đối Tết. Đâycũng là một tập tục đẹp, một thú văn chương tao nhã của các nhà thơ.  Hiện nay thi họa sĩ Vũ Hối (Quảng Nam) là một nhà thư pháp nổi danh trên thế giới có tên ghi trong Thư Đạo của Nhật và có bằng khen của Tổng Thống Hoa Kỳ John F Kennedy.
Sơ lục về kho tàng câu đối của người Việt
Kho tàng câu đối của người Việt chúng ta rất phong phú và đa dạng. 
Trong suốt chiều dài của nền văn học Việt, hầu như tất cả các Nho sĩ, văn nhân, thi sĩ đều làm câu đối.  Câu đối không thể thiếu trong các đền đài, lăng, miếu để ca ngợi công đức của tiền nhân, thánh nhân, và các vị anh hùng, liệt nữ, chúc mừng lễ, Tết, hay tang, tế, hiếu hỉ, v.v.
Trong các Nho sĩ, nổi tiếng về câu đối nhất có lẽ là Cao bá Quát.  Còn về nữ sĩ thì không ai sánh bằng với Hồ Xuân Hương.
Những câu đối ở đền Hùng
Các vị tiền nhân lập quốc nước Lạc Việt ta là các đấng Vua Hùng (2879 Trước Tây Lịch -TTL).  Vị vua đầu tiên được ghi nhận trong sử sách là Kinh Dương Vương và tên nước ta đầu tiên là Xích Quy (không phải là Xích Qủy), rồi nhường ngôi cho con là Lạc Long Quân vợ là Âu Cơ.  Dòng họ sau đó chia ra: một nửa lên miền núi, một nửa xuống vùng biển (huyền thoại bọc 100 trứng) nhằm mở mang bờ cõi. 
Năm 2524 TTL, Lạc Long Quân truyền ngôi cho con cả là Hùng QuốcVương.  Triều đại các vua Hùng bắt đầu từ Hùng Quốc Vương với 18 thế đại bao gồm 47 đời vua, kéo dài 2622 năm, trung bình một đời vua kéo dài 55 năm.  Chi Hùng Vương cuối cùng là Hùng Duệ Vương, sinh năm 421 TTL, dài 150 năm.  (xem Nguồn Gốc Việt Tộc của Phạm Trần Anh, 2007, tr. 513)
Các sử sách nêu ra cụm từ “bốn ngàn năm văn hiến”, đó chính là khoảng thời gian tính từ năm 2879 TTL đến 1479 STT (Hậu Lê), tổng cộng là 4358 năm.
Câu đối ngoài cổng:
Thác thủy khai cơ, tứ cố sơn hà quy bản tịch
Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông quy một mối
Đăng cao vọng viễn, quần phong la liệt tự nhi tôn
Lên cao nhìn rộng, nghìn trùng đồi núi tựa đàn con
Câu đối ở Lăng vua Hùng:
Duật duật hoàng hoàng, phối thiên kỳ trạch đế nhi Tổ
Đẹp đẹp tươi tươi, sánh ơn lớn của trời, vua còn là Tổ
Thông thông uất uất, đắc địa chi linh sơn diệc hùng
Xanh xanh tốt tốt, được khí thiêng của đất, núi cũng rất hùng
Duy tổ quốc tinh thần, nhất thập bát truyền căn bản địa
Vì tinh thần tổ quốc, qua mười tám đời truyền đất này là căn bản
Khảo dư đồ danh thắng, kỷ thiên cổ tải đế vương lăng
Khảo danh thắng nước nhà, sau mấy ngàn năm lẻ nơi đây còn lăng vua
Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản, sông Thao non nước vẫn quay về đẩt tổ
Văn minh đang buổi mới, con Hồng cháu Lạc giống nòi còn nhớ đến mồ ông
Câu đối ở đền Thượng:
Thần thánh khải viêm bang chí kim, địa bất cải tịch dân bất cải tụ
Thần thánh mở cơ đồ, đến nay đất vẫn thế dân vẫn thế
Huân lao phụng thánh miếu thị vị, mộc chi hữu bản thủy chi hữu nguyên
Công huân thờ đền miếu, đó là cây có gốc nước có nguồn
Hồng Lạc cố cung tồn, điệp chướng tầng loan quần thủy hợp
Cung cũ Hồng lạc còn đây, trùng điệp núi đồi nhiều dòng sông hợp lại
Đế Vương linh khí tại, hào phong lộ vũ nhất sơn cao
Khí thiêng Đế Vương vẫn đó, thét gào mưa gió một ngon núi đứng cao
Thử địa thử sơn Nam quốc tỷ
Đất này núi này bờ cõi Nam
Ngô vương ngô tổ Bắc thần tôn
Vua ta tổ ta phương Bắc nể vì
Thông thông uất uất, trung hữu lăng yên, tẩm yên long phục tiên mẫu chi linh tính, hữu ngã hậu nhân võng khuyết
Trong cây cỏ tốt xanh vẫn có miếu có lăng, hồn thiêng cha mẹ rồng tiên phù hộ đời sau không thiếu sót
Cổ cổ kim kim, thử sơn dã thủy, dã thánh tổ thần tông chi sáng tạo, y hi tiền vương bất vong
Suốt thời gian dài dằng dặc thấy kìa sông kìa núi, công đức tổ tiên thần thánh, nhớ ơn vua nước chẳng hề quên
Câu đối ở đền Trung:
Thập bát đại thừa truyền Lô bích, Tản thanh đồ bản cựu
Nhị thiên niên linh chức Âu phong, á vũ, miết đường cao
Câu đối ở đền Hạ:
Có tôn, có tổ, có tổ, có tôn tôn tổ tổ cũ
Còn nước, còn non, còn nước, nước non non nước nước non nhà
Những câu đối liên quan đến Nhụy Kiều Nữ Tướng Triệu Trinh Nương(Triệu Ẩu)
Câu đối ở cổng đền thờ
Trông bành voi, Ngô cũng lắc đầu, sợ uy Lệ Hải Bà Vuơng, những muốn bon chân về Bắc quốc
Ngồi yên ngựa, Khách còn hoài cổ, khiếp danh Lạc Hồng Nữ Tướng, có chăng thẹn mặt đấng Nam nhi
Câu đối cũng được sử dụng để phê phán, châm biếm những thói hư tật xấu ở đời.
Câu đối của Chí Sĩ Dương Bá Trạc:
Một đầu voi chống chọi với quân thù, sau Trưng nữ rạng danh bà Lệ Hải
Ba thước vú tử sinh cùng đất nước, cho Ngô hoàng biết mặt gái Giao Châu
Những câu đối liên quan đến Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn
Câu đối đề tại đền Kiếp Bạc:
Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí
Vạn Kiếp núi lồng hình kiếm dựng
Lục Đầu vô thủy bật thu thanh
Lục Đầu vang dậy tiếng quân reo
Một trận sông Đằng, sóng gió đã tan hồn nghịch tặc
Nghìn thu non Dược, khói bay còn tụ khí anh hùng
alt
Những câu đối của Trạng Lợn Nguyễn Nghiêu Trư (Đời Nhà Lê)
Trạng Lợn và ông khách:
Tương truyền lúc nhỏ theo cha làm nghề thịt lợn, lại đẻ vào tháng 10 tức tháng Hợi nên đặt tên là Nguyễn Nghiêu Trư và thường gọi là cậu Lợn (chữ Hán “Trư” nghĩa là lợn).  Ông bản tính nhanh nhẹn, thông minh, lúc nhỏ có lần cùng bố đi bắt lợn, gặp kiệu ông Nghè vinh quy, Trư hỏi: "Ông gì thế bố". Người cha đáp: "Ông Trạng!" Trư nói: "Lớn lên con cũng làm ông Trạng!"   Từ đó đi chơi với trẻ trong làng, ông đều khoe: "Ta là quan Trạng!"
Một lần có người khách thấy vậy liền lỡm:
Trạng dở hay trạng nguyên
Trạng Lợn trả lời:   
                                        
Khách quen hóa khách lạ
Trạng Lợn và Phấn Khanh:
Cô gái tên là Phấn Khanh ra vế trước: 八刀分米粉Bát đao phân mễ phấn(nghĩa là "tám đao chia hột gạo", nhưng vấn đề ở chỗ trên chữ "bát" dưới chữ "đao" bên trái chữ "phân" là chữ Phấn chính lại là chữ đầu tên của cô gái)
Trạng Lợn đối lại: 千里重金鍾Thiên lý trọng kim chung(nghĩa là "nghìn dặm nặng chuông vàng", cũng ý rằng trên chữ "thiên" dưới chữ "lý" bên trái chữ "kim" là chữ Chung là tên tự của Trạng Lợn là Chung Nhi)
Giai thoại này như sau: Trạng Lợn đi hỏi vợ gặp phải cô gái tên Phấn Khanh hay chữ liền đem tên của mình ra vế đối, vì chưa nghĩ ra được nên ông khất khi nào lên kinh ứng thí về sẽ đối. Khi lên đến kinh, vua Lê Thánh Tông thấy anh này tên là Chung Nhi mới chiết tự chữ Chung để ra câu đối, Trạng Lợn nhớ đến câu đối của cô gái liền đem ra trả lời được vua ban thưởng. Về đến làng, anh ta lại đem câu của vua Lê Thánh Tông đối lại câu của nàng Phấn Khanh, thế là vẹn cả đôi đường vừa được quan chức bổng lộc lại vừa được vợ mà không phải đối đáp gì cả.
Trạng Lợn và Tú Cát:
Trong làng cậu bé Chung Nhi có một người hay chữ nhưng tính tình kiêu ngạo, đi đâu cũng khoe khoang, tên gọi là ông Cứt. Sau này ông đỗ Tú Tài, vì thấy tên xấu nên đổi gọi là Cát, thiên hạ vẫn gọi là Tú Cát. Tất nhiên, từ nhỏ Chung Nhi đã ghét những người có bản tính như vậy. Một hôm, Chung Nhi đang đứng xem đàn lợn ăn cám thì Tú Cát đi qua. Đã được nghe người ta đồn đãi về thần đồng này, Tú Cát không ưa gì nên ông ta ra vẻ kẻ cả gọi đến bảo: "Ta nghe thiên hạ đồn mày là đứa thông minh, ứng đáp rất giỏi. Bây giờ ta ra cho mày một vế đối, nếu mà không đối được thì sẽ biết tay. Nhất định ta sẽ đánh đòn cho chừa các tật láo, nghe chưa!"
Nói xong, Tú Cát liền gật gù đọc:       Lợn cấn ăn cám tốn
Đây là một câu đối rất hắc búa bởi "Cấn" và "Cám" vừa chỉ lợn và thức ăn của lợn, lại vừa là hai quẻ trong kinh Dịch, người có học nhiều còn thấy khó.
Chung Nhi đối ngay:                           Chó khôn chớ cắn càn
Quả là một vế đối vừa chỉnh vừa có ý xỏ xiên. "Khôn" và "Càn" cũng là hai quẻ trong kinh Dịch, Quỳnh lại còn ngầm ý chưởi Tú Cát là đừng có mà rắc rối. Bị thằng nhỏ hơn mình chơi lại một đòn đau, Tú Cát tức lắm, hầm hầm bảo: "Được để coi mầy còn thông minh đến cỡ nào. Tao còn một vế nữa, phải đối ngay thì tao phục!"
Nói xong Tú Cát đọc ngay: Trời sinh ông Tú Cát!
Vế vừa ra mang tính cách ngạo nghễ, phách lối.
Nào ngờ, Chung Nhi chỉ ngay xuống đất, dưới lớp phân heo đùn lên những ụ nhỏ mà đáp: Đất nứt con bọ hung!
Những vế đối trên người sau thường gán ghép cho Trạng Quỳnh.
Hương Cống Nguyễn Quỳnh (1677 - 1748) và Hồng Hà Nữ Sĩ Đoàn thị Điểm (1705 - 1748)
Nhà ông Bảng Nhãn Đoàn Doãn Nghi - cha Đoàn Thị Điểm - dạy học trò đông lắm. Trạng Quỳnh ngày ngày giả vờ đến xem bình văn, để ngấp nghé cô Ðiểm. Học trò biết ý, vào thưa với quan Bản, ngài bắt vào hỏi. Quỳnh thưa: "Tôi là học trò, thấy trường quan lớn bình văn, tôi đến nghe trộm". Quan Bảng nói: "Ta biết hết rồi, anh đừng giả danh học trò mà bắt chước tuồng chim chuột. Có phải học trò thì ta ra cho một câu đối, không đối được thì đánh đòn!"
Vế ra:                          Thằng Quỷ ôm cái Đấu, đứng cửa Khôi Nguyên
Vế đối:                        Con Mộc tựa cây Bàng, dòm nhà Bảng Nhãn
Vế trên: chữ Quỷ ghép với chữ Đấu thành chữ Khôi, vế dưới chữ Mộc bên cạnh chữ Bàng là chữ Bảng.  Quan Bảng thấy Quỳnh xuất khẩu thành chương có bụng yêu, giữ Quỳnh lại nuôi ăn học. Có thuyết khác cho rằng vế ra là của Bảng Nhãn Phạm Quang Trạch chớ không phải của Đoàn Doãn Nghi.
Trạng Quỳnh biết bọn quan thị và quan võ trước giờ không ưa nhau, bèn nghĩ cách cho chúng tỉ võ với nhau một bữa, đồng thời để xem cái dốt nát của chúng đến mức nào. Một hôm, Quỳnh đến nhà viên quan hoạn giữ chức giám ban, đọc cho nghe một câu đối như sau:
Thị vào chầu, thị đứng, thị trông, thị muốn ấy, thị không có gậy
Trạng giải thích cho hắn hiểu chữ “thị” đây có nhiều nghĩa, gồm cả: chầu, đứng, trông, ấy, gậy… rồi nói kháy rằng mình đọc thấy ở bên dinh quan đề đốc.
Quỳnh nói xong thì kiếu ra về rồi đi ngay đến nhà quan đề đốc. Gặp quan, Quỳnh khoe rằng vừa đọc được một câu đối hay ở dinh quan giám ban như sau:
Vũ ỷ mạnh, vũ ra vũ má, vũ bị mưa, vũ bện xoắn lông!
Đọc xong, Quỳnh lại còn ra vẻ xuýt xoa thán phục: "Chữ vũ tai ác thật. Một từ mà đồng âm, diễn được bốn, năm nghĩa: mạnh, ra, múa, mưa, lông… Thế thì có thánh hoá mới đối lại được!"
Từ hôm đó trở đi, quan đề đốc và quan giám ban kình nhau ra mặt. Cho đến một hôm, Quỳnh nghe đám gia nhân kháo nhau: hai nhà quan kia kéo “quân” hỗn chiến một trận kịch liệt. Xong trận, cả hai đều tơi tả.
Vế đối khác:
Đình không dừng, đình thế thì thôi, đình gặp sét, đình tung cả nóc
Một ông quan huyện vào quán ngồi bệ vệ lắm, Quỳnh giả làm học trò xác, mon men đến đứng bên, hễ thấy quan ăn miếng trầu nào nhả bã ra thì lại cúi xuống nhặt. Quan hỏi: "Mày là ai". Quỳnh đáp: "Bẩm, tôi là học trò". Quan lại hỏi: "Học trò sao lại lẩn thẩn thế?". Quỳnh thưa: "Bẩm, chúng tôi thấy phương ngôn thường nói: Miệng kẻ sang có gang có thép!  chúng tôi nhặt xem gang thép như thế nào.
Quan thấy Quỳnh có ý xược, ra oai thét: "Ðã xưng là học trò, thì phải đối ngay câu phương ngôn ấy đi, đối được thì tha cho, không sẽ đánh đòn!" Quỳnh chỉ chờ có vậy đọc luôn: Ðồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm.
alt
Câu đối trong Cung oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798)
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi
Những giai thoại đối đáp của Bà Chúa Thơ Nôm Hồ Xuân Hương (1772 - 1822)
Hồ Xuân Hương khi du ngoạn qua cửa Gió ở Đèo Ngang:
Khéo khen ai đẽo đá chênh vênh, tra hom ngược để đơm người đế bá
Gớm con tạo lừa cơ tem hẻm, rút nút nuôi cho lọt khách cổ kim
Câu đối Tết:
Đêm ba mươi tống cựu, khép cánh càn khôn, một then đưa đẩy khìn khin khít khịt
Sáng mồng một nghinh tân, mở lò tạo hóa, hai cánh banh ra toác toạc toàng toang
Hồ Xuân Hương và Quan Huyện:
Hồ Xuân Hương đang giặt áo dưới cầu, thấy võng quan đi qua liền ứng khẩu:
Võng đào quan lớn đi trên ấy
Váy rách bà con giặt dưới này
Giai thoại đối đáp với các nhân vật đương thời.
Đối đáp với Thị Giảng Học Sĩ Phạm Đình Hổ (1768 - 1839)
Những câu đối chào hỏi khi gặp gỡ:
Hồ Xuân Hương ra:
Khấp như thiếu nữ vu quy nhật
Khóc như thiếu nữ vui ngày cưới
Phạm Đình Hổ (tục gọi Chiêu Hổ) đối:
Tiếu tự thư sinh lạc đệ thi
Cười như anh khóa lúc hỏng thi
Chiêu Hổ hứng khởi lại ra:
Người Cổ lại còn theo thói Nguyệt
(Chữ cổ ghép với chữ nguyệt là chữ hồ, ý nói Hồ Xuân Hương đã lớn tuổi mà vẫn đa tình).
Hồ Xuân Hương đối:
Buồng Xuân đâu đã nhạt mùi Hương
(Chữ Xuân với ghép chữ Hương là tên, ý nói Hồ Xuân Hương này đâu đã phải là người “nhạt phấn phai hương”, đâu đã chịu già hom!)
Có thuyết nói cả 2 vế đều của Chiêu Hổ viết tặng Hồ Xuân Hương
Một hôm, Chiêu Hổ đến chơi nhà Hồ Xuân Hương, khi đi qua sân, đụng phải quần áo của nàng đang phơi. Hồ Xuân Hương xuất thần đọc:
Tán vàng, lọng tía, che đầu nhau mỗi khi nắng cực
Chiêu Hổ đối lại:
Thuyền rồng, mui vẽ, vém buồm lên rồi sẽ lộn lèo
Năm 1821, Phạm Đình Hổ dâng sách được vua Minh Mạng vời ra: Ông được bổ làm Hành Tẩu Viện Hàn Lâm. Xuân Hương năm ấy chồng Tham Hiệp Trần Phúc Hiển bị tử hình, trở về Cổ Nguyệt Đường, hay tin đã làm câu đối mừng Chiêu Hổ với lời đùa nhẹ nhàng:
Mặc áo Giáp, dãi cài chữ Đinh, Mậu Kỷ Canh khoe mình rằng Quý
Hồ Xuân Hương lấy những chữ trong thập can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý ý muốn chế diễu Chiêu Hổ chỉ đỗ Tú Tài, nhờ dâng sách mà được làm quan nay mặc áo đẹp ra vẻ ta đây.
Chiêu Hổ nổi nóng, đối đáp bằng lời mắng nặng nề:
Làm đĩ Càn, tai đeo hạt Khảm, Tốn Ly Đoài khéo nói rằng Khôn
Vế đối lấy những chữ trong bát quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài mắng Xuân Hương là 'con đi càn dỡ lại còn tự phụ, cho mình khôn'. Những lời mắng nặng nề ấy đã chấm dứt mối liên hệ giữa Xuân Hương và Chiêu Hổ. Trong thư hồi âm, đoạn cuối ông viết hai câu kết để cắt tình đoạn nghĩa với "bà chúa thơ nôm":
Nay đã mần cha thằng xích tử
Rầy thì đù mẹ cái hồng nhan
Câu đối của Uy Viễn Tướng Quân Binh Bộ Thượng Thư Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858)
Những câu đối tự thuật vầ câu đối Tết thuở còn hàn vi.
Câu đối tự thuật:
Nợ vướng nợ, nợ càng thêm nợ
Tình vương tình, tình vấn vương tình
alt
Câu đối Tết:
Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa
Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà
Chị em ơi!  Ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông, tây, nam, bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác
Trời đất nhẻ! Gắng một phen này nữa, xếp cung, kiếm, cầm thư vào một gánh, làm sao nổi tiếng trượng phu kềnh
Nợ có chết ai đâu, đòi mà chi, trả mà chi, cha cóc
Trời để sống lâu mãi, tiền cũng có, bạc cũng có, mẹ bò
Tết có cóc gì đâu, uống một vài be củ tỏi
Nợ đâm ương ra đó, nói ba bốn chuyện cà riềng
Be củ tỏi: ve (chai) nhỏ, có hình củ tỏi, cổ dài, thân tròn, người xưa thường dùng đựng rượu. Chuyện cà riềng: chuyện con cà, con kê. Cà riềng đối với củ tỏi rất chỉnh.
Đuột giời ngất một cây nêu, hết túi ba mươi ri cũng Tết
Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một rứa là Xuân
(Đuột giời: thẳng tuốt lên trời. Ri: thế này. Rứa: thế nọ, thế ấy, như thế. Đây là từ địa phương vùng Nghệ Tĩnh)
Bầu một chiếc lăn chiêng, mặc sức tam dương khai thái
Nhà ba gian bỏ trống, tha hồ ngũ phúc lâm môn
Bầu: bầu rượu. Bầu lăn chiêng là vì không có rượu. “Chiêng” đối với “trống” ở câu dưới, thật chỉnh. Ngày xưa, câu đối Tết dán nhà cửa thường có Ngũ phúc lâm môn/Tam dương khai thái. Ngũ phúc lâm môn (năm điều phúc vào cửa) là: Thọ (sống lâu); phú (giàu sang); khang ninh (bình an, khỏe mạnh); du hiếu đức (ham làm việc phước đức); khảo chung mệnh (sống trọn tuổi Trời cho). Tam dương khai thái: theo Kinh Dịch, ba hào dương (ba vạch liền) mở ra quẻ Thái tượng trưng cho mùa xuân tốt lành.
Mồng một Tết, mồng hai Tết, mồng ba Tết, ờ Tết
Buổi sáng say, buổi trưa say, buổi chiều say, cho say
Chiều ba mươi công nợ rối, Mậu Thìn, những muốn mười năm dồn một Tết
Sáng mồng một rượu chè say, Kỷ Tỵ, trông cho ba bữa hoá mười ngày
Mua pháo đốt chơi, để anh em nghe có tiếng
Giật nêu đứng lại, cho làng nước biết không xiêu
(có tiếng; không xiêu: cần được hiểu theo hai nét nghĩa; có tiếng: chỉ tiếng pháo nổ, đồng thời cũng là tiếng tăm, danh tiếng; không xiêu: chỉ cây nêu đứng vững, đồng thời còn chỉ khí tiết cốt cách cứng cỏi vững vàng của nhà nho Nguyễn Công Trứ)
Ðắp gốc cây cao, Tết đến thắp hương thơm đèn sáng
Khơi nguồn nước mát, Xuân về dâng trái ngọt hoa thơm
Tối ba mươi, giơ cẳng đụng cây nêu... Ủa! Tết
Sáng mồng một, lắng tai nghe lời chúc... Ồ! Xuân
Phước thâm tự hải (hạnh phúc nhiều sâu như biển)
Lộc cao như sơn (của cải nhiều cao như núi)
Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái Tết
Ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa Xuân
Câu đối của Bà Huyện Thanh Quan Nguyễn Thị Hinh (1805 - 1848)
Duyên với       văn      chương  nên   dán   chữ
Nợ       gì         trời          đất    phải  trồng  nêu
Nhớ     nước   đau    lòng    con    cuốc    cuốc
Hương nhà   mỏi    miệng   cái      da       da
Đá    vẫn    trơ    gan    cùng    tuế    nguyệt
Nước còn   cau   mặt      với    tang   thương
Sóng      lớp    phế    hưng    coi    đã     rộn
Chuông hồi    kim      cổ      lắng càng  mau
(Xin đón coi tiếp Phần Hai)

Hải Bằng.HDB