User Rating: 0 / 5

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
 
 
Thác nghĩa đã ghi cùng sắt đá
Sống thừa còn hẹn với non sông

Dương Bá Trạc (1884-1944)
 
Có nhiều thế hệ nhà thơ nhà văn Việt Nam chỉ kéo dài có 5 năm, nhiều lắm là 9 năm, trong khi theo cảm thức nhân quần, mỗi thế hệ thanh niên thường là 20 năm. Không bàn rộng tới các lãnh vực nhân văn, chỉ bàn về thơ, và tạm lấy những biến cố thời chính làm dấu mốc, ta có thể tìm thấy những khác biệt lớn lao giữa các nguồn cảm hứng thi ca của thơ Việt Nam trong thế kỷ XX, cho nhiều người, mà điển hình là Dương Bá Trạc, đời sống tương đối ngắn ngủi, rất nổi trôi và bi thống (1884-1944).
 
Thi gia Dương Bá Trạc (1884-1944), tác giả các sử thi và thi phẩm Nét Mực Tình, 1937. (Hình: Viên Linh cung cấp)
 
Dương Bá Trạc hiệu Tuyết Huy, người Mễ Sở Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, sinh năm 1884, đậu cử nhân năm 1900, mới 16 tuổi, không chịu ra làm quan, tâm thức ông đã đi theo một chí hướng khác. Năm 1907 khi Phong Trào Ðông Kinh Nghĩa Thục được thành lập với Lương Văn Can, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Quyền, ông dạy học tại đây và cùng lớp trí thức Hán Nho hướng về Nhật bản, nước Á Châu đã đánh bại một kẻ thù da trắng trong trận hải chiến Ðối Mã 1905. Ông bị bắt, bị tù 15 năm biệt xứ ở Côn Lôn. Ra tù Dương Bá Trạc còn bị quản thúc ở miền Nam (Long An và Cần Thơ, theo một số sách ghi lại), trước khi được trở về Thăng Long Hà Nội. Với kiến thức học vấn, ông chuyển sang tranh đấu bằng bút mực, báo chương, hợp tác với Nam Phong tạp chí, Trung Bắc tân văn, làm thơ viết văn ca ngợi gương trung hiếu tiết nghĩa của anh hùng liệt nữ của đất nước, còn để lại những bài về sự tuẫn tiết của Hai Bà Trưng, về cái chết của bà Hoàng Phi Nguyễn Thị Kim, không theo vua Lê Chiêu Thống qua Trung Hoa, mà sau khi đón xác vua trở về an nghỉ nơi quê hương, bà đã uống độc dược tự tử. Những vần điệu đầy ắp tinh thần cao đẹp của Dương Bá Trạc như thế đã trở thành những áng thơ ca được truyền tụng để giáo huấn đời sau, như sử thi yêu nước.

Hai Bà Trưng
Dương Bá Trạc
 
Nước nhà gặp cơn bĩ
Trách nhiệm gái trai chung
Quyết lo đền nợ nước
Há những vị thù chồng?
Tham tàn căm tướng Chệch [Chệt]
Tai mắt tủi nòi Hồng
Em ơi đứng cùng chị
Thù riêng mà nghĩa công.
Xin đem thân bồ liễu
Ðành liều với non sông
Một trận đuổi Tô Ðịnh
Quân Tàu chạy đuôi cong.
Lĩnh Nam bảy mươi quận
Mặc sức ta vẫy vùng
Mê Linh dựng nghiệp đế
Ðộc lập nêu cờ hồng.
Bốn năm nước tự chủ
Nhi nữ cũng anh hùng.
 
(Văn Ðàn Bảo Giám, Nam Ký chủ trương, 1925)

Vịnh Bà Nguyễn Thị Kim
Dương Bá Trạc
 
Giong ruổi quan hà lạc chúa công
Ngọn mây non bắc tít mù trông
Bồng mao tạm lúc nương thân liễu
Kinh khuyết may sau thấy mặt rồng
Thác nghĩa đã ghi cùng sắt đá
Sống thừa còn hẹn với non sông
Thôi thôi nước cũ đây là hết
Năm lạy linh tiền chứng thiếp trung.

 
(Kim Văn Tân Tuyển, Quốc Học Tùng Thư, 1966)
 
Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Ðại, quyển nhì (Các Thi Gia), bản in 1951 tại Hà Nội, ca ngợi thơ Dương Bá Trạc rất cao: Bài Vịnh Bà Nguyễn Thị Kim ý rất đầy đủ và lời thơ lại rất luyện, ngâm lên ai cũng phải bùi ngùi, cảm động. [...] thơ vịnh cảnh của ông thật nhẹ nhàng, bóng bảy, khác hẳn các giọng trong hai lối thơ trên của ông. ... Bài “Vào hè” mà người ta đã trích vào sách giáo khoa và đề lầm là thơ cổ, cũng vào số những bài thơ hay của ông. Giọng thơ vừa nhẹ nhàng vừa thanh tao, hơi giống giọng thơ Yên Ðổ (Nguyễn Khuyến):
 
Vào hè
Dương Bá Trạc
 
Ai xui con cuốc gọi vào hè
Cái nóng nung người nóng nóng ghê
Ngõ trước vườn sau um những cỏ
Hồng rơi thắm rụng tiếc cho huê
Trên cành gọi bạn chim xao xác
Trong tối đua bay đóm lập lòe
May được nồm nam cơn gió thổi
Ðàn ta ta gẩy khúc nam nghe.

 
(Nét Mực Tình, Ðông Tây xb, Hà Nội, 1937, tr. 28)
 
Năm 1925 nhóm các nhà giáo quanh ông Nam Ký, Trần Trung Viên soạn thảo bộ Văn Ðàn Bảo Giám, thi gia Dương Bá Trạc đã được mời viết Bài Tựa. Bài viết chỉ khoảng 200 chữ mà đã thâu tóm một vòm văn khí bao la, rộng lớn. Người ta biết ngoài sáng tác, ông còn viết báo và làm báo. 

Bài Tựa có những câu như sau: “Mỗi một nước có một văn chương riêng, văn chương của nước nào tức là quốc-hoa của nước ấy, mà chính là quốc-hồn của nước ấy. Văn chương nước ta, tuy vì người mình mấy ngàn năm xưa mài miệt về Hán học, không chú trọng về quốc văn, nên không lấy gì làm được phát đạt cho lắm; nhưng thủ-trạch của các tiền nhân ta còn được di-trữ phiến-mặc nào để lại, cũng đều là lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu; chỉ khốn vì một nỗi linh tinh tản mác ở trong tàn-biên đoạn-giản, tam sao thất bản, mỗi ngày một mất dần đi. Ấy quốc-hoa ta ở đó, mà quốc hồn ta cũng ở đó chứ đâu, kẻ hữu tâm thực không thể không ngậm ngùi than tiếc!”... 

Văn học sử Việt Nam còn ghi: năm 1932 Dương Bá Trạc làm chủ bút “Văn Học tạp chí” ở Hà Nội. Năm 1935: sáng lập tờ Ðuốc Tuệ cùng Sở Cuồng Lê Dư, tòa soạn đặt tại chùa Quán Sứ, nơi trụ trì và lui tới của các vị có tâm huyết và những thanh niên làm cách mạng, như Lý Ðông A, Sư Thiện Chiếu, Thiều Chửu, ... 

Rồi trong thời Thế Chiến thứ Hai, chính ông cùng học giả Trần Trọng Kim lăn vào “một cơn gió bụi,” từ Hà Nội vào Sài Gòn, và gục ngã trên xứ người, ở Singapore. Lời thơ lời văn Dương Bá Trạc để lại, cho tới nay, vẫn còn nguyên giá trị: văn chương một nước là quốc-hoa quốc-hồn của nước ấy, mà vì tàn-biên đoạn-giản [cũng có chỗ viết đoạn-biên tàn-giản] (sách cũ rách nát, hư hại, còn lại thì không toàn vẹn, không lấy làm tín-chứng được). Những lời trên ông viết từ Tháng Giêng năm Bính Dần -1926), tới nay là gần một thế kỷ, xem ra tình trạng không khác, mà còn tệ hại hơn: không những quốc-hoa quốc-hồn tàn lụi, thui chột, mà người ta còn để tâm tiêu diệt đi, cố tình bóp méo và thiêu hủy đi. 

Kẻ đọc sách xưa có ai nghĩ gì chăng?
 
Viên Linh